Kế Thất

3



6

Ta thuê một viện nhỏ sát phố ở phía nam thành.

Kết cấu đơn giản, phía trước làm phòng khám, phía sau để ở.

Chủ nhà là một bà lão hiền hậu, bà nói: “Chỗ này trước kia là của một bà đỡ, diện tích hơi hẹp, mong nương tử chớ ghét bỏ.”

Ta hoàn toàn không ghét bỏ.

Tự tay căng một tấm vải trắng, mài mực viết lên bốn chữ “Tống thị y quán”, treo trước cửa.

Chữ là ta tự viết, không nói đến phong cốt, nhưng từng nét từng nét đều là tự do.

Ngày khai trương đầu tiên, khách khứa thưa thớt.

Ta ngồi yên sau bàn chẩn, lặng lẽ đọc hết một quyển 《Châm cứu đại thành》.

Đến hoàng hôn, mới có một bóng người mồ hôi đầm đìa xông vào.

Là tiểu đồng nhà họ Lục.

 

“Phu nhân! Không… Tống đại phu!” Hắn thở hồng hộc, “Thiếu gia lại co rút chân, hai bà mụ mới mời tay vụng, xoa bóp thế nào cũng không được!”

Ta chẳng buồn ngẩng đầu, lật sang một trang sách khác:

“Lấy ngải điều, cứu huyệt Túc tam lý và Dương lăng tuyền, mỗi huyệt một khắc.”

“Ngải… ngải điều ở đâu ạ?”

Ta thản nhiên đáp:

“Trong dược phòng, tủ phía tây ngăn thứ hai, cái hòm dán phong chữ ‘Liễu’. Đó là ngải Liễu phu nhân dùng khi xông y phục lúc sinh tiền, chất lượng không tệ, cũng đến lúc đem ra dùng rồi.”

Ngày thứ hai, nha hoàn Lục phủ hớt hải chạy đến:

“Phu nhân! Thiếu gia bị lở loét, mưng mủ rồi! Bà y bà mới mời kia lại bảo phải dùng sắt nung đỏ mà áp lên, nói là trừ thịt thối sinh da non…”

“Làm càn!”

Ta đập mạnh bàn đứng dậy, rồi lại chậm rãi ngồi xuống.

Ta lấy tư cách gì mà nổi giận vì người nhà bọn họ?

“Lấy ‘Sinh cơ ngọc hồng cao’ đi, năm ngoái ta tự tay điều chế, trong tủ hẳn còn. Trước dùng nước muối rửa sạch vết thương, rồi bôi một lớp mỏng, mỗi ngày thay thuốc.”

“Thuốc… thuốc cao ở…”

Ta nhìn vào đồ hình kinh mạch trên trang sách:

“Ở Thính Tuyết Các, gian đông, tủ thuốc thứ ba, tầng trên cùng, trong hũ sứ xanh.”

Ta dừng lại một chút:

“Là dùng chính hũ trong bộ trà sứ xanh mà Liễu phu nhân yêu thích nhất. Khi lấy nhớ cẩn thận, đừng làm vỡ.”

Đêm thứ ba, cửa viện của ta bị đập ầm ầm như sấm.

Ta khoác áo mở cửa, người đến lại chính là Lục Văn Uyên.

Hắn mặc quan bào nhăn nhúm, mũ quan lệch hẳn, quầng mắt thâm đen nặng nề, nào còn nửa phần phong thái thanh quý thường ngày của vị Thị lang.

“Thanh Chỉ! Huyền nhi sốt cao co giật, đám thái y vô dụng kia bó tay hết rồi! Nàng lập tức theo ta về phủ!”

Hắn túm chặt cổ tay ta, lực mạnh đến kinh người.

“Lục đại nhân,” ta bình thản rút tay về, “ta chỉ là y nữ ‘không đáng nhắc tới’ trong miệng

ngài, không dám chậm trễ bệnh tình của lệnh lang. Phủ ngài gia thế hiển hách, nên mời

Thái y lệnh, hoặc ngự y trong cung, chứ không phải tìm đến ta – một đại phu chốn thị phi.”

“Ngươi—”

Hắn tức đến mặt tím bầm, nghiến răng hỏi:

“Ngươi muốn bao nhiêu chẩn kim? Cứ ra giá!”

Ta bỗng bật cười.

“Thì ra trong mắt Lục đại nhân, vạn vật thế gian đều có thể định giá. Đáng tiếc, y thuật của ta không bán cho ngài nữa.”

Ta đóng cửa, cài then.

Bên ngoài vang lên tiếng hắn dùng nắm tay nện vào cánh cửa, từng tiếng trầm đục, tựa con dã thú bị nhốt trong lồng, gào lên những tiếng kêu tuyệt vọng vô ích.

7

Ba tháng sau, ta hợp tác cùng Hồi Xuân Đường, thuê được một cửa tiệm ở phía đông thành, mở ra y quán châm cứu nữ khoa đầu tiên của kinh thành.

Chuyên trị các chứng nan y của phụ nữ và trẻ nhỏ, học đồ và y công trong quán, cũng toàn là nữ tử.

Ngày khai trương, ta mặc bộ y bào màu ngó sen do chính mình thiết kế, gọn gàng mà đoan trang.

Tố Tâm trở thành đại nha hoàn kiêm trợ thủ của ta, vừa giúp sắp xếp tủ thuốc vừa hạ giọng nói:

“Tiểu thư, nghe nói bên Lục phủ đã tức đến mức đuổi chạy ba bà y, lại thay năm sáu mụ xoa bóp rồi…”

Ta gật đầu:

“Từ nay không cần nói chuyện của bọn họ nữa.”

“Y quán họ Tống” của ta rất nhanh dựa vào danh tiếng mà đứng vững ở thành đông.

Mỗi ngày phụ nhân, hài tử đến cầu chẩn tấp nập không dứt, ta bận rộn đến mức chân không chạm đất, nhưng trong lòng lại thấy vô cùng viên mãn.

Chiều hôm ấy, ta đang giảng cho đám học đồ mới cách cứu ngải, chỉ cho họ phân biệt huyệt vị.

Cửa quán bị đẩy ra.

Lục Văn Uyên đứng nơi ngưỡng cửa.

Hắn gầy đi nhiều, vạt áo quan dính những vết bẩn không rõ, trong mắt đầy tơ máu, cằm lún phún râu xanh xám.

Trong quán lập tức yên lặng, mọi ánh mắt đều dồn cả về phía hắn.

“Thanh Chỉ…”

Hắn mở miệng, giọng khàn khàn đến đáng sợ.

“Giận dỗi cũng đủ rồi, theo ta về đi. Huyền nhi… nó không rời được nàng. Mấy hôm trước bà y mới mời kia lại dùng thuốc hổ lang, suýt nữa thì hại chết nó.”

Vừa nói, hắn vừa bước về phía ta, đưa tay định kéo tay áo ta.

Ta nhìn thấy nơi cổ tay áo hắn, còn vương mấy giọt nước thuốc đã khô từ lâu.

Ta lùi lại một bước, tránh khỏi cái chạm ấy, lấy từ trên án chẩn ra một tấm danh thiếp trống, đưa tới trước mặt hắn.

“Lục đại nhân,” ta nhìn thẳng vào hắn, “tiểu nữ hiện là đại phu ngồi quán của Hồi Xuân

Đường. Khám bệnh tại quán, chẩn kim mỗi lần năm lượng bạc. Nếu cần xuất chẩn, tiền xe ngựa tính riêng, ba lượng. Ngài có muốn ghi danh không?”

Sắc mặt Lục Văn Uyên lập tức đỏ tím như gan lợn.

Hắn định nói gì đó, nhưng ta không cho hắn lấy một hơi, đem toàn bộ những lời đã dồn nén suốt bốn năm trong lòng, một mạch trút ra…

“Bốn năm qua, ta vì mẫu thân ngươi mà bưng phân bưng nước, dưỡng lão tiễn chung, ngươi nói đó là ‘phụ đạo’.

Ta vì lệnh lang mà châm cứu xoa bóp, thức trắng đêm canh giữ, ngươi nói đó là ‘bổn phận’.

Ta dùng bạc của nhà mẹ đẻ, dùng tích góp hành y của chính mình, lấp vào từng khoản

thâm hụt của Lục phủ, giữ cho ngươi cái danh Thị lang thanh lưu, ngươi nói ‘Tống gia giàu có, giúp đỡ là lẽ đương nhiên’.”

Ta tiến lên một bước, hắn theo phản xạ lùi lại một bước.

“Giờ đây, ta không muốn làm tròn ‘phụ đạo’, cũng chẳng cam lòng giữ ‘bổn phận’. Ta đã rút

hết bạc của mình đi, ngươi mới phát hiện ra phủ đệ của ngươi vốn đã mục ruỗng từ bên trong ư?

“Lục Văn Uyên, phong nhã của ngươi cần bạc để nuôi dưỡng, thâm tình của ngươi cần một

nữ nhân sống sờ sờ làm bệ đỡ. Danh tiếng thanh lưu của ngươi, cần một ‘y nữ’ không biết

phong nhã đứng sau âm thầm gánh vác để duy trì. Nay kẻ chịu đỡ cho ngươi đã đứng

thẳng, kẻ kiếm bạc cho ngươi không làm nữa, ngươi mới nhớ đến ta sao?

 

“Ngươi cuối cùng cũng hiểu ra, thì ra ngâm thơ vẽ tranh không chữa được chân liệt cho con ngươi, gảy đàn đánh cờ cũng chẳng đổi nổi thang thuốc cứu mạng?”

Một bà lão đang chờ khám nghe hiểu, khẽ cười khẩy:

“Hóa ra đây chính là vị Lục Thị lang nổi danh khắp kinh thành vì thơ điếu vong đó ư. Lão

thân còn tưởng ngài đa tình đến mực nào, nào ngờ một phu nhân sống sờ sờ, lại không bằng một người đã chết mấy năm.”

Sắc mặt Lục Văn Uyên lúc xanh lúc trắng, môi run rẩy, một chữ cũng không thốt ra được.

Hắn hất mạnh tay áo, quay người bỏ đi trong dáng vẻ chật vật, lúc ra cửa còn suýt bị bậc cửa cao vấp ngã, loạng choạng mấy bước mới đứng vững.

Trong quán dần trở lại yên tĩnh.

Một tiểu học đồ nhỏ giọng hỏi ta:

“Sư phụ, vị vừa rồi… là ngài…”

“Chồng cũ.” Ta đáp gọn ghẽ, quay người ngồi xuống trước án chẩn, đề bút viết đơn thuốc cuối cùng trong ngày.

Ta nói với đám học đồ vây quanh mình:

“Đều nhớ kỹ, y giả phải có ngạo cốt. Chúng ta dựa vào bản lĩnh cứu người, không phải phụ thuộc nhà ai. Thà thanh bần mà hành châm, cũng không cúi mình hầu người.”

8

Mười chín tháng Chạp, là ngày kỵ của Liễu Văn Oanh.

Những năm trước, đó là ngày bận rộn nhất của ta.

Ta phải theo yêu cầu của Lục Văn Uyên, lên Tây Sơn tìm đúng loại lục ngạc mai hắn chỉ

định, cắm vào chiếc bình quan diêu đặt trong Thính Tuyết Các; phải đến Linh Lung Trai ở

thành nam, mua về món bánh mai hoa tô mà Liễu Văn Oanh khi sinh tiền thích nhất; phải ủi

phẳng bộ áo lụa trắng hắn mặc khi tế bái; còn phải chuẩn bị sẵn trà sâm đậm để xua hàn,

dưỡng thân cho hắn sau khi từ nghĩa địa trở về.

Có một năm, hắn còn yêu cầu ta bày đồ tế thành hình cầm sắt, nói rằng:

“Văn Oanh tinh thông âm luật, bày như vậy mới hợp tâm ý nàng.”

Năm ấy, tuyết lớn ngập trời.

Ta quỳ ngồi dưới hành lang ngoài Thính Tuyết Các, đợi hắn tế xong, tuyết phủ đầy vai, gần như thành một người tuyết.

Hắn ở trong các đốt hương gảy đàn, một khúc 《Nhớ cố nhân》 chẳng biết đàn bao nhiêu lần cho đến khuya.

Lúc hắn bước ra, liếc thấy chén trà sâm trong tay ta đã nguội lạnh từ lâu, chỉ cau mày nói một câu:

“Trà nguội rồi, đi đổi chén nóng khác.”

Còn năm nay, ta tự mua cho mình hơn nửa con ngỗng quay béo ngậy, hâm một hồ rượu lê hoa bạch ngọt thanh, trong tiểu viện của mình, đối diện tuyết rơi lả tả, tự rót tự uống.

Vị tự do ấy, ngọt hơn trà sâm gấp trăm lần.

Giờ Hợi, cửa viện lại bị gõ vang.

Lần này đến vẫn là tiểu đồng nhà họ Lục, toàn thân phủ tuyết, môi tím tái vì lạnh.

“Tống đại phu! Xin ngài mau đến xem lão gia với! Ngài… ngài từ mộ Liễu phu nhân trở về thì phát sốt cao, mê sảng không ngừng, miệng cứ gọi… gọi tên tiên phu nhân!”

Ta cách cánh cửa, lạnh nhạt đáp:

“Phong hàn nhập thể, cao nhiệt mê sảng, mời Thái y là được.”

“Thái y cục nói tuyết lớn quá, ban đêm không xuất chẩn! Xin ngài đấy Tống đại phu! Lão gia… lão gia trong lúc mê cũng gọi tên ngài, ngài ấy nói… ‘Thanh Chỉ, châm’… ‘Thanh Chỉ, thang’…”

Trong lòng ta không gợn nổi một tia sóng.

Hắn bệnh mà nhớ đến ta, chẳng qua là nhớ đến y thuật của ta, nhớ đến sự tiện lợi khi ta ở bên điều dưỡng cho hắn.

Ta trầm mặc giây lát, vào phòng cuốn một bó ngải nhung cũ, đưa ra qua khe cửa:

“Cứu huyệt Đại chùy, Phong trì, Khúc trì. Nếu đến sáng mai nhiệt chưa lui, thì đến y quán của ta mà đăng ký.”

“Phu… Tống đại phu!” tiểu đồng ngoài cửa khóc lóc, “Thiếu gia cũng ho ra máu rồi! Trong phủ đã loạn thành một nồi cháo!”

Ta thổi tắt ngọn đèn trong phòng.

Trong bóng tối, tiếng cầu xin của tiểu đồng ngoài cửa dần dần xa mất.9

Ngày hôm sau, y quán nhận được một phong thư từ Lục phủ gửi tới.

Là bút tích của Lục Văn Uyên, nét chữ nguệch ngoạc, chẳng còn chút nào vẻ thanh tú ngày trước.

Trong thư hắn kể khổ trời tuyết lạnh, hoài niệm ấm áp thuở xưa, nói ngày trước đều do ta nhọc lòng chăm sóc, nay rốt cuộc cũng hiểu được tốt lành của ta, nguyện đem Thính Tuyết Các – nơi hắn từng xem như trân bảo – cải thành y thất, chỉ mong ta quay về.

Đám học đồ vây lại xem, tức tối bất bình: “Sao hắn không biết sớm hơn!”

Ta đem phong thư ấy, đưa lại gần lò than đang sắc thuốc.

Chương trước Chương tiếp
Loading...