Chỉ Vì Năm Chữ Ấy

3



“Phu nhân” – cái danh ấy đã thay thế ta suốt một thời gian dài.

Tiêu Bắc Việt nói phu nhân không thể cầm kiếm, không nên đến gần giếng, phu nhân là người thân phận cao quý.

Vậy nên “phu nhân” ấy bị giam trong một góc trời, dần dần quên mất chính tên mình.

Nhưng ta đâu thể là đóa hoa kiều diễm nơi phồn hoa Biện Kinh — ta là đám cỏ xanh nơi hoang nguyên trấn ải.

Đất cần cỏ. Trâu bò cũng cần cỏ.

Tiêu Bắc Việt không yêu ta — là bởi chàng không hợp với ta, không phải vì ta không xứng đáng.

Ta không chối từ nữa, chắp tay thi lễ: “Vậy xin chờ lệnh bổ nhiệm của quan chức đại nhân.”

8

Tiêu Bắc Việt chờ đến tận tháng sáu, mùa hoa mộc tê nở rộ, mà Giang Hằng vẫn chưa trở về.

Chàng bất giác nhớ lại lời Trạm Tuyết nói nửa tháng trước:

“Chàng đừng lo, đó chỉ là chiêu làm nũng thường tình của nữ nhân mà thôi.”

“Như ta ấy à, cãi nhau với phu quân liền viết thư cho chàng, theo chàng rời thành cũng không phải thật lòng muốn đi, chỉ là muốn khích hắn một chút, xem hắn ghen tuông tức giận ra sao.”

“Phu nhân của chàng, cũng chẳng nỡ rời bỏ chàng đâu.”

Nhìn dáng vẻ ngây thơ hoạt bát của Trạm Tuyết, trong lòng chàng bỗng dâng lên cảm giác nực cười.

Chàng đã bất chấp dư luận nơi đô thành, đêm khuya điều ba vạn binh mã đi đón nàng—rốt cuộc lại chỉ là một trò giận dỗi của nàng mà thôi?

Nhưng rất nhanh sau đó, chàng lại hy vọng, lời Trạm Tuyết nói cũng đúng với Giang Hằng—rằng đó chỉ là một lần nàng giận hờn mà rời đi.

Chàng bỗng nhận ra, trong lòng mình—từ đầu đến cuối—chưa từng vì Trạm Tuyết mà đau lòng thực sự, trái lại, vẫn luôn nghĩ về Giang Hằng.

Bên cạnh, Tiêu Nhất nhịn không được mở miệng: “Trạm  cô nương! Sao người có thể như vậy! Chủ thượng vì người mà vất vả dặm dài đến tận đây, chẳng lẽ tất cả chỉ là một trò đùa?”

Trạm Tuyết nhíu mày: “Nhưng ta nào có cầu các ngươi làm đến mức ấy đâu?”

“Ta chỉ viết có năm chữ, cũng chỉ mong chủ thượng hồi âm, đến lúc ấy phu quân ta nhìn thấy, tất sẽ nổi giận ghen tuông. Ai ngờ các ngươi lại kéo cả binh mã đến như vậy.”

“Ta đã là thê tử của vương hầu Sát Bắc, sao có thể bỏ chồng theo các ngươi được?”

Tiêu Nhất nghẹn lời không biết đáp ra sao.

Trạm Tuyết cảm thấy bị xúc phạm, hừ lạnh một tiếng, vung tay áo bỏ đi.

Lần này, Tiêu Bắc Việt không còn đuổi theo bóng dáng ấy nữa.

Chỉ nhàn nhạt trách Tiêu Nhất: “Lời ấy… vượt lễ rồi.”

Không lâu sau, vương hầu Sát Bắc đích thân đến đón Trạm Tuyết, thay thê tử mình tạ lỗi với chàng.

Lời nói là trách cứ nàng, nhưng trong từng câu chữ đều là bao dung che chở.

Trạm Tuyết cũng thật lòng xin lỗi, rồi vui vẻ nắm tay phu quân rời đi.

Bao năm trôi qua, nàng vẫn là cô nương ngông nghênh rực rỡ của Biện Kinh năm nào.

Nàng chủ động đưa tay nắm lấy tay phu quân, vương hầu Sát Bắc chẳng những không gạt ra, mà còn nắm lấy thật chặt—như thể đã quen thuộc từ lâu.

Tiêu Bắc Việt bỗng nhớ đến Giang Hằng.

Nàng cũng từng như thế, nhẹ nhàng đưa tay nắm lấy tay chàng.

Thế nhưng, tại sao sau đó… không còn nữa?

Chàng nhớ ra rồi.

 

Là bởi ngày ấy, chàng quát nàng: “Trước mặt bao người, nàng còn ra thể thống gì! Nàng là phu nhân của ta, phải đoan trang giữ lễ.”

Mà chàng—đã chẳng thể nhớ nổi lúc đó nàng có biểu tình ra sao.

Bởi có lẽ… chàng chưa từng nhìn nàng một cái, nên nay cũng chẳng nhớ được.

Ngón tay Tiêu Bắc Việt vô thức khẽ miết, Song… chẳng thể nào tìm lại được cảm giác ấm áp mềm mại thuở nào.

Tiêu Nhất không đành lòng nhìn vẻ cô quạnh nơi thần sắc chủ thượng.

“Chủ thượng, Trạm  cô nương đã rời đi mười ngày rồi. Chúng ta cũng không nên tiếp tục nấn ná. Hôm nay vương Sát Bắc đã tới hỏi—chúng ta bao giờ lên đường.”

“Nhưng…” – Tiêu Bắc Việt ngập ngừng.

Nhưng Giang Hằng… vẫn chưa trở về…

Tiêu Bắc Việt rốt cuộc cũng tỉnh ngộ—Giang Hằng và Trạm Tuyết, thực chất là hai người hoàn toàn khác biệt.

Giang Hằng… không phải hạng nữ nhân hay giận dỗi để làm mình làm mẩy.

Nàng nói muốn đi—thì chính là thật tâm muốn đi.

Vậy thì, chuyến hành trình này… rốt cuộc là vì điều chi?

Tiêu Bắc Việt đưa tay đặt lên ngực.

Chỗ đó nghẹn ngào khó chịu, tim đập như dội, chua xót đến đau.

Dịch mật trong dạ dày như trào ngược lên, khổ sở khôn cùng.

Tiêu Nhất lo lắng: “Chủ thượng, người làm sao vậy? Có phải thân thể không khoẻ?”

Tiêu Bắc Việt hồi lâu mới phất tay ra hiệu không ngại.

Bởi lẽ, chàng rốt cuộc đã hiểu ra—cái vị đắng nơi cuống họng kia… gọi là “hối hận”.

9

“A tỷ! Có cả một đống thư gửi cho người này!”

Tiểu sai dịch hớn hở từ bao vải lấy ra mớ thư: “Mấy phong thư này chẳng đề địa chỉ, chỉ ghi—Giang Hằng, thành Nguyệt Nha. Vừa khéo, cả thành này chỉ có một người họ Giang tên Hằng!”

“Tiểu nhân bảo với sư phụ là biết người ở đâu, nài nỉ mãi mới được tự mình đem đến! Hề hề!”

Ta cắt một tấm vải sạch, bưng lồng bánh hoa linh tiêu vừa mới hấp xong, còn nóng hôi hổi, gói lại rồi đưa ra: “Vất vả cho Tiểu Mộc rồi, hôm nay bánh này, chỉ dành cho ngươi ăn đó.”

Tiểu Mộc cười đến híp cả mắt, cong như trăng non: “Tạ ơn A tỷ! Vừa tới đầu ngõ là đã ngửi được hương thơm rồi!”

Tiễn Tiểu Mộc xong, ta mở từng phong thư ra.

Phong đầu tiên, Tiêu Bắc Việt viết vào giữa tháng sáu, chỉ vỏn vẹn mấy chữ: “Ta phái người đến đón nàng.”

Phong thứ hai, cuối tháng sáu: “Trở về Giang Nam, việc vụn rối ren, hành trình chậm trễ. Đến tháng bảy, ta sẽ đích thân đến đón nàng.”

Phong thứ ba: “Hoàng mệnh đã tới, không thể xuất thành. Mong nàng trở về.”

Văn từ của Tiêu Bắc Việt vẫn như trước—ngắn gọn, dứt khoát.

Những bức thư này, vốn dĩ cách nhau nửa tháng là đến tay.

Chỉ tiếc, tháng bảy mưa lũ khắp Trung Nguyên khiến đường sá tắc nghẽn, thư đều bị chậm trễ, mãi tới tháng tám mới dồn lại gửi tới.

Ta nhìn nét chữ quen thuộc mà xa vời kia, trong lòng dâng lên cảm giác như đã trải qua mấy đời kiếp.

Rõ ràng đếm từng ngày, vậy mà ly biệt chưa đến nửa năm.

“A Hằng! Xem ta mang gì đến cho nàng nè!”

Ngoài sân, chưa thấy người, tiếng của Trịnh Thanh đã tới trước.

Ta vội đứng dậy đỡ lấy nàng: “Tháng thai đã lớn rồi, sao nàng còn hấp tấp vậy? Té ngã thì biết làm sao?”

Trịnh Thanh trừng mắt nhìn ta: “Sao càng ngày nàng càng giống Ôn Phàm thế hả! Đừng có học y hệt hắn, lải nhải không dứt!”

Vừa nói, nàng vừa đặt con vịt quay béo múp lên bàn: “Con mập nhất đấy! Ta đích thân canh lão Lý làm…”

“Bà nó! Cái thứ dơ dáy gì thế kia?!”

Nàng vớ ngay xấp thư trên bàn, đôi mắt sắc bén quét qua từng phong.

“Đừng nói là tên cẩu phu kia lại viết thư cầu hòa chứ? Ợ!”

Nàng giả vờ nôn nghén, làm ta cũng bị giật mình.

“Loại nam nhân hạ tiện như hắn, nàng tuyệt đối không được tha thứ! Bằng không ta sẽ không tha cho nàng đâu!”

Ta đỡ nàng ngồi xuống, nhẹ nhàng trấn an.

“Yên tâm đi, Trịnh đại nhân, ta sẽ không tha thứ cho hắn.”

Trịnh Thanh “bốp” một cái đập tay xuống bàn: “Không tha thì không tha! Nhưng cũng đừng oán! Oán giận cũng là một loại tình cảm!”

“Nàng phải quên hắn đi! Tuyệt đối đừng lưu niệm, đừng luyến tiếc nữa!”

Ta cầm tay Trịnh Thanh lên, vừa thổi nhẹ vừa dịu giọng: “Được rồi, được rồi… Không giận, không tha, cũng không còn nhớ nhung chi nữa.”

Không oán hắn—bởi ta hiểu chấp niệm của hắn.

Ấy là ánh trăng tuổi trẻ, thứ khát khao từng không có được.

Giống như ta từng cam nguyện vì hắn mà đi ba vạn dặm, thì hắn cũng có thể vì Trạm Tuyết mà bất chấp tất cả.

Yêu hắn, gả cho hắn—đều là do ta tự nguyện.

Chẳng có lý gì lại ép buộc người khác phải hồi đáp thứ tình cảm ấy.

Tình yêu đã phai nhạt từ lâu.

Ta nghĩ, có lẽ ngay từ sớm đã mơ hồ nghĩ đến rồi—

Phải chăng… ta cũng xứng đáng có một cuộc đời khác, tốt đẹp hơn?

Ta ngẩng đầu nhìn giàn hoa linh tiêu ngoài sân, bèn nhấc bút hồi âm:

Ta sống rất tốt, đừng đến quấy nhiễu nữa.

10

Tiêu Bắc Việt từng muốn đích thân đến Tây Bắc tìm Giang Hằng, mang nàng trở về Giang Nam.

Nhưng vì chàng tự tiện dẫn binh rời khỏi phong địa, Biện Kinh hạ một đạo chỉ trách tội, phạt mười năm không được xuất thành nửa bước.

Vậy nên chàng đành phái người đến Tây Bắc, qua lại chuyển lời, gửi gắm tin tức cho nàng.

Nàng đã làm nữ quan, nơi ấy ai ai cũng biết—thành Nguyệt Nha có một Giang cô nương tài giỏi vô song.

Không có cái giếng nào nàng không sửa được, không có con kênh nào nàng không vạch được thuỷ lộ.

Lúa mới thu về, các tráng đinh tranh nhau mang đến tận nhà nàng.

Lúc nào cũng có các bà mối nông gia nhiệt tình đến mai mối cho nàng.

 

Nàng thường dậy sớm luyện kiếm, sau đó mới lên công đường.

Thời gian còn lại phần lớn đều dồn vào việc viết sách.

Bộ đồ hình thuỷ lợi do nàng biên soạn, đã được truyền đến tận Biện Kinh.

Nàng… sống rất tốt.

Năm thứ năm sau ngày ly biệt, Tiêu Bắc Việt cuối cùng mới dám uống thật say—

Rồi trong cơn mộng, thấy lại nàng.

Chàng thấy một cô nương rực rỡ như dã hỏa, rụt rè hỏi chàng: “Ta rất mến chàng, chàng có nguyện thử cùng ta một đoạn duyên không?”

Ánh trăng chiếu trong đôi mắt nàng, đẹp đến nao lòng.

Nhưng chưa kịp để chàng hồi đáp, nàng đã cau mày lo lắng.

Khung cảnh xoay chuyển, nàng e dè thốt lời van cầu: “Tiêu Bắc Việt, chàng dỗ ta một chút đi… chỉ cần chàng dỗ, ta sẽ không thấy đau nữa.”

Chàng thấy bản thân mình cũng nhíu mày.

Rồi bỗng nhiên hiểu ra—đó là năm nào, là khoảnh khắc nào.

Chàng hoảng loạn, điên cuồng hét vào mặt Tiêu Bắc Việt năm hai mươi tuổi: “Không! Không được nói như vậy!”

“Dỗ nàng một chút thôi mà! Ôm nàng một lần đi!”

Nhưng trong mộng, chàng lại lạnh lùng nói: “Bản vương không biết dỗ người.”

Chàng thấy nụ cười trên mặt nàng đông cứng lại, nhưng miệng vẫn cố gắng cười, làm như chẳng có gì.

Chương trước Chương tiếp
Loading...