Ánh Trăng Muộn

1



1.

Tạ Trì Quy trước kia không gọi là Tạ Trì Quy.

Chàng vốn tên là Tạ Trì — chữ “Trì” trong “nhất trì xuân thủy” (một hồ xuân thủy).

Mười hai năm trước, Tạ Trì là kẻ ăn chơi nổi tiếng nhất kinh thành.

Năm xưa, lão Hầu gia nhà họ Tạ ngoài bốn mươi mới sinh ra một đứa con út là Tạ Trì.

Khi ấy, Đại công tử nhà họ Tạ trưởng thành chín chắn, từ sớm đã được định kế thừa tước vị; Nhị công tử ôn nhuận đoan chính; Tam công tử giữ lễ biết chừng mực. Ba huynh đệ đều văn võ song toàn, ai nấy đều là trụ cột nước nhà.

Tạ lão Hầu gia tung hoành sa trường nửa đời người, ôm con út trong lòng, lại nhìn ba đứa con trai tài mạo song toàn kia, sờ râu mỉm cười, cảm thấy đời mình đến đây đã viên mãn, thật chẳng còn mong gì hơn.

Vì mãn nguyện, nên khi dạy dỗ Tạ Trì, ông cũng có phần buông lỏng.

Tới khi tỉnh ra thì đã muộn — đứa con út suốt ngày trèo cây bắt chim, lội sông mò tôm, không thì lại chạy đến kỹ viện nghe ca, lên thuyền hoa ngắm kỹ nữ.

Tạ Trì là kiểu người “ăn xong lại quên bị đòn”, có đánh gãy cả mấy cây roi, chờ vết thương lành, hắn lại kéo quần trèo tường ra ngoài đấu dế.

Tạ lão Hầu gia tức đến mức tăng huyết áp.

Hết cách, ông nghiến răng, xách đứa con mười bốn tuổi thẳng lên chiến trường.

Ý ông là cho nó biết thế nào là “hoàng sa tuý giác”, thế nào là “thập lý lang yên” — lấy chiến trường rèn khí phách.

Ai ngờ đi một chuyến, cả phủ Tạ gia và ba vạn binh ở Bắc Cương chỉ có một người sống sót trở về — chính là Tạ Trì.

Chàng bị Tam ca đã mất một tay đè dưới thân che chắn, mới tránh được mưa tên dày đặc.

Máu của Tam ca thấm qua chiến giáp, dọc theo cổ chảy xuống, nóng rát và đặc sệt, khiến Tạ Trì run rẩy n/ôn khan.

Gió tuyết gào thét, Tạ Trì cõng th/i t h.ể Tam ca, vượt từng tầng x/á c ch .t, xiêu xiêu vẹo vẹo mà bước ra ngoài, cuối cùng kiệt sức ngất đi, được một thợ săn tình cờ cứu sống.

Chôn cất xong huynh trưởng, Tạ Trì từ biệt ân nhân, đơn độc lên đường trở về kinh.

Chưa kịp thấy hơi gió của kinh thành, đã nghe tin dữ truyền khắp thiên hạ:

Tạ Hầu sợ chiến thông địch, buông binh bỏ thành, ba vạn quân chết sạch, tội ác tày trời, tru di cửu tộc.

Hôm đó, Tạ Trì mơ mơ màng màng, lửa giận cuồn cuộn khiến toàn thân nóng như bị nung sắt, uất nghẹn không chốn trút, như có mây đen đè nặng lên ngực.

Khi hoàn hồn lại, chàng đã theo đoàn dân chạy nạ/n đi rất xa về phương Nam.

Từ đó đổi tên thành Thẩm Trì Quy.

Chàng mất mười hai năm bố trí mưu lược, lần lượt kéo những kẻ từng hãm hại Tạ gia xuống bùn: Đại hoàng tử, Tể tướng họ Cao, Hoàng hậu, nội gián Lưu Bất Bình, Thống lĩnh Cẩm y vệ Hầu Cấm… từng kẻ từng kẻ, không sót một ai.

Chàng lại phò trợ người bạn thuở nhỏ — Lục hoàng tử — đăng cơ làm vua.

Ngày Tạ gia rửa sạch oan khuất, Thẩm Trì Quy nhận lại tổ tánh “Tạ”.

Nhưng không nhận lại tên “Tạ Trì”.

Khi ấy Lục hoàng tử còn chưa lên ngôi, hỏi chàng:

“Sao không lấy lại tên cũ?”

Tạ Trì Quy lắc đầu:

“Tạ Trì đã ch .t rồi.

Chết ở cái gò đất mười hai năm trước, ch .t cùng với Tam ca, phụ thân, huynh trưởng, ch .t cùng ba vạn chiến sĩ.

Ch .t sạch.

Không đáng để một kẻ sống sót như ta giữ lại cái tên ấy.”

Lục hoàng tử sau lên ngôi, phong chàng làm Thượng tướng quân.

Nhưng người sống đôi khi chỉ là vì giữ một hơi thở.

Tạ gia minh oan, ba vạn binh hồn ở Bắc Cương cũng đã được rửa sạch thanh danh, đại cừu đã báo, Tạ Trì Quy đứng trước mộ phần của đám người như Đại hoàng tử, Cao Tể tướng… chẳng buồn chẳng vui.

Với nhân thế, chàng đã đoạn tuyệt.

Cát bụi về với cát bụi.

Tạ Trì Quy năm hai mươi sáu tuổi, tóc bạc phân nửa.

2.

Nếu nói trên đời còn điều gì khiến Tạ Trì Quy chưa thể cắt đứt, thì đó là bằng hữu cũ, cũng là Tân đế.

Song một người là quân, một người là thần, đã phân rõ vai vế — xa xa nhìn y làm vua là đủ.

Người còn lại… là người chàng đã từng yêu.

Tên nàng là Giang Lê Tuyết.

Từ nhỏ Tạ Trì đã mơ hồ cảm nhận được, sau này mình sẽ cưới Giang Lê Tuyết.

Hai nhà môn đăng hộ đối, mẫu thân hai người lại thân thiết như tỷ muội.

Giang Lê Tuyết là khuê nữ chính hiệu, đoan trang nề nếp.

Còn Tạ Trì thì lêu lổng, y phục khoác lên hai canh giờ là rách bươm: lúc thì lăn bùn, lúc thì mắc cành cây.

Nhưng Lê Tuyết luôn tìm được chàng.

“A Trì, mẫu thân thiếp nấu canh sen, chàng qua uống một chén.”

Về sau lại thành:

“A Trì, thiếp nấu canh sen rồi, chàng đến uống đi.”

Họ có một khởi đầu rất đẹp,

nhưng kết thúc… chẳng có nổi một câu từ biệt.

Núi xác biển m/á u, xương gãy thịt nát, vĩnh viễn giam hãm thiếu niên mười bốn tuổi năm ấy.

Sáu năm sau khi "Tạ Trì" ch .t, Giang Lê Tuyết gả chồng.

Năm ấy nàng 19 tuổi, không thể tiếp tục chờ đợi.

Ngày nàng xuất giá, Thẩm Trì Quy đang ẩn thân phương Nam, nghe tin lập tức hồi kinh.

Chàng cải trang, đeo mặt nạ da người, mặc một thân hỷ y đỏ chót, lặng lẽ đứng trong đám đông.

Nhìn kiệu hoa đung đưa đưa nàng đi xa.

Mặt nạ dán quá chặt, toàn mặt đau nhức tê cứng, vành tai như bị kéo rách, thái dương giật liên hồi, choáng đến mức suýt ngã.

Người đã ch .t thì nên chết cho yên. Người còn sống thì phải sống cho tốt.

A Tuyết là nữ tử tốt nhất thiên hạ, nàng xứng đáng có một lang quân như ý, sinh con đẻ cái, sống một đời bình an.

Kẻ đã ch .t thì không nên khuấy nhiễu người sống.

Bởi thế cho dù đến nay Tạ Trì Quy đã có thể chính danh hiển lộ dưới ánh dương, chàng cũng chưa từng một lần đi tìm Giang Lê Tuyết.

Tân đế rất không hài lòng với trạng thái sống như tro tàn của Tạ Trì Quy.

Hắn thường lôi chàng đi uống rượu, cưỡi ngựa, săn bắn.

Nhưng như người xưa nói:

“Muốn mua quế hoa cùng uống rượu, rốt cuộc chẳng như thuở thiếu niên du chơi.”

Một hôm, Tân đế lại lấy cớ nghị chính truyền Tạ Trì Quy nhập cung, thực chất là kéo đi xem vũ khúc mới của giáo phường.

Người múa chính là vũ cơ Hồ tộc, eo thắt chuông vàng, uốn lượn như rắn, phong tình vạn chủng.

Tạ Trì Quy chẳng hứng thú, chỉ lặng lẽ uống rượu.

Đến khi vị Thục phi được sủng ái kia không chịu được, xông vào kiểm tra, bất chấp ngăn cản của nội thị, Tạ Trì Quy mới hờ hững nâng mí mắt lên nhìn.

Nam nhân sợ nhất là bị mất mặt trước mặt nữ nhân, huống hồ là thiên tử.

Tân đế vất vả mới đuổi được Thục phi đi, vừa lau mồ hôi trán, chưa kịp ngồi yên, liền chạm phải ánh mắt “xem trò vui” của Tạ Trì Quy.

Tân đế: ?

Trong một khắc ấy, Tân đế linh quang chợt hiện:

“Ái khanh, cô độc bấy lâu, chi bằng để trẫm ban cho một mối hôn sự?”

“Nghe trẫm đi, cưới vợ sinh con, cuộc sống sẽ dần tốt hơn.”

Tạ Trì Quy: ?

“Đa tạ bệ hạ, thần không cần.”

Tân đế: “Phải cần, phải cần, trẫm đảm bảo khanh sẽ vui như trẩy hội.”

Tạ Trì Quy: “Thật sự không cần, không phải khách sáo đâu.”

3

Tạ Trì Quy vừa mới bước chân vào phủ, Hoàng công công truyền chỉ đã cưỡi ngựa đuổi đến ngay sau đó.

Hoàng công công mày râu hớn hở, cười tươi như thể Hoàng thượng không phải ban hôn cho người khác mà là ban cho chính mình một đôi lứa xứng đôi vừa lứa.

Tạ Trì Quy cảm thấy Tiểu Lục Tử thật đúng là hồ đồ. Hắn thế mà lại chọn cho chàng một nương tử, khéo thay, chính là muội muội của vị Thục phi được sủng ái nhất trong cung hôm nay — Kiều Nhị tiểu thư, Kiều Thư.

Tạ Trì Quy đương nhiên biết Kiều Thư.

Chàng tuy ít lời, nhưng bao năm lăn lộn trong vòng nam nhân cũng chẳng thể không nghe tới cái tên ấy.

Bởi lẽ, Kiều Nhị tiểu thư, tục xưng Tiểu Kiều, chính là đệ nhất mỹ nhân đương thời của kinh thành.

Mà Tạ Trì Quy, người từng bước qua đao sơn hỏa hải, trải qua vô số phản bội và mưu tính, tuy tuổi đời mới hai mươi sáu nhưng tâm tính đã già dặn như lão nhân sáu mươi sáu. Nếu nói một câu “thấy mỹ nhân như thấy bộ xương trắng” thì cũng chẳng sai chút nào.

Chàng chẳng hề muốn cùng Tiểu Lục Tử kết làm thông gia.

Huống hồ Kiều Nhị tiểu thư vừa mới cập kê, mà bản thân chàng đã trải bao sóng gió, quả thật là một gốc lê già ép xuống một đóa hải đường non mềm — không chỉ trái lẽ thường mà còn khiến người nghe chua xót răng lợi.

Hơn nữa, chỉ riêng hôm nay ở đại điện, vị Thục phi kia tuy đẹp đến động lòng người, nhưng tính tình quả thật mạnh mẽ đến mức khiến người ta đau đầu.

Cả nửa đời trước của Tạ Trì Quy đều say mê kiểu nữ tử như Giang Lê Tuyết. Bỗng dưng bị nhét cho một Thục phi như thế này, chàng có đầy đủ lý do để nghi ngờ Tiểu Lục Tử cố ý giở trò tư thù, muốn nhìn chàng lên thớt làm trò cười.

Nhưng, dù thế nào… hôn sự này vẫn phải thành.

Tiểu Lục Tử chính là người do chàng một tay phò trợ lên ngôi.

Hoàng công công gõ chiêng trống rộn ràng từ cửa Thái Hòa môn đến tận Trường An đạo, cả hoàng thành đều biết Hoàng thượng vừa ban hôn cho Thượng tướng quân.

Tạ Trì Quy gần như nghiến răng nghiến lợi tiếp chỉ.

Song nói đi cũng phải nói lại, kể từ sau khi tiếp chỉ, cả người chàng tựa hồ cũng sống động trở lại đôi phần.

Tân nương sắp nhập môn, bao nhiêu việc trong phủ phải sửa sang, sính lễ phải chuẩn bị, khách mời phải thỉnh, từ đại sự sắp đặt bàn tiệc quan khách đến tiểu tiết như kiểu dáng rương áo của tân nương, việc nào cũng không thể qua loa.

Chàng là kẻ cô gia quả nhân, không có ai chủ trì hôn sự, mà quản gia cũng không dám tự ý quyết định những chuyện trọng đại thế này. Kết quả là Tạ Trì Quy bị một đống quy củ lễ nghi vùi dập đến ngộp thở.

Đã bao năm rồi chàng chưa từng ngồi xuống, từng chút từng chút mà lo liệu như thế. Thậm chí giữa mớ bận rộn này, chàng còn cảm thấy cái cảm giác áp lực khẩn trương khi năm xưa từng dốc toàn lực bày mưu hạ bệ Đại hoàng tử lại trỗi dậy mơ hồ.

Hôn kỳ định gấp, chàng bận tối tăm mặt mũi, bận đến quên ăn quên ngủ, bận đến không còn tâm trí nghĩ tới chuyện “cát bụi về với cát bụi”. Nếu thật có chút nhàn rỗi, e rằng trong đầu cũng chỉ có mấy câu mắng Tiểu Lục Tử loạn điểm uyên ương phổ.

Nhưng sự bận rộn ấy lại đem đến hiệu quả rõ rệt.

Chỉ trong vòng nửa tháng ngắn ngủi, cổng lớn tướng phủ đã được sơn lại lớp mới, rêu xanh trên mái ngói được cạo sạch, đèn lồng dưới hành lang đổi sang kiểu tân trang đỏ thắm viền vàng, khung cửa sổ vốn cũ kỹ nay đã khắc rực rỡ hoa mẫu đơn quấn cành, đến cả đôi sư tử đá trước cửa cũng được rửa sạch sáng bóng.

Mọi sửa sang đều kịp hoàn tất ba ngày trước đại hôn.

Khi Tạ Trì Quy kiểm tra xong gốc mai mới trồng cuối cùng trong vườn, trời đã gần hoàng hôn.

Ánh chiều tà trải trên nền đá xanh bóng loáng, dải lụa đỏ treo dưới mái hiên rực rỡ trong nắng tàn. Tất cả những gì mới mẻ, sáng sủa và sạch sẽ ấy đều dễ dàng khiến lòng người sinh ra vài phần mong chờ, hân hoan.

Nhưng trong lòng Tạ Trì Quy, bỗng dâng lên một cơn buồn lặng.

Chàng chỉ vào gốc mai mới, thản nhiên dặn cận vệ:

“Ở đây, đặt một chiếc bàn đá.”

A Tuyết khi xưa, thích nhất là ngồi đọc sách dưới gốc hoa.

Thành Nam tiểu lộ lại vào xuân, chỉ thấy mai nở, không thấy người.

Tạ Trì Quy khép mắt lại, hơi thở khẽ run.

Tuổi trẻ khi xưa, cuối cùng cũng chỉ là mộng ảo tan biến như sương khói.

Không cưới được cô gái mình đã yêu từ thuở mười bốn tuổi… làm sao không tiếc nuối.

Chương tiếp
Loading...